Phần lớn đất đồi quanh hồ Tà Đùng là đất đỏ bazan: tầng dày, tơi, thoát nước tốt, hợp với cây lâu năm như cà phê vối, hồ tiêu, sầu riêng, bơ, mắc ca, cùng với chanh dây, mít, chuối và rau màu theo mùa. Nhưng không phải cả quả đồi đều như nhau. Cùng một lô có thể có vạt đất đỏ sâu cả mét, vạt đất nhạt màu lẫn sỏi sạn, vạt đá lộ đầu hay vạt đất trũng ẩm quanh năm.
Vì vậy câu trả lời thật cho "đất Tà Đùng trồng được cây gì" là: trồng được nhiều cây, nhưng phải đọc từng vạt đất trước. Ba thứ quyết định cây nào sống tốt là độ sâu tầng đất, khả năng thoát nước và độ dốc. Bài này hướng dẫn bà con ở xã Tà Đùng (tỉnh Lâm Đồng từ 1/7/2025, trước đó là xã Đắk Som và Đắk R'Măng của huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông) cách tự đào hố xem đất, nhận ra từng loại đất hay gặp và ghép cây cho đúng chỗ.
Vì sao đất quanh hồ Tà Đùng phần lớn màu đỏ
Vùng cao nguyên phía tây nam Tây Nguyên, trong đó có khu vực quanh hồ thủy điện Đồng Nai 3, nằm trên nền đá bazan phun trào từ các đợt núi lửa rất cổ. Qua thời gian dài nắng nóng và mưa nhiều, đá bị phong hoá sâu thành lớp đất dày giàu sét, giàu sắt và nhôm. Sắt bị ôxy hoá cho đất màu đỏ hoặc nâu đỏ, đó là thứ màu bà con thấy bám đỏ ống quần sau mỗi buổi mưa. Trong phân loại thổ nhưỡng, loại đất này thường được xếp vào nhóm đất đỏ vàng, đất nâu đỏ trên đá bazan.
Ưu điểm của đất đỏ bazan là cấu trúc viên tơi: dù nhiều sét, đất vẫn xốp, rễ cây dễ xuyên, nước mưa thấm nhanh nên ít úng trên sườn dốc. Tầng đất ở nhiều nơi dày, giữ ẩm khá trong mùa khô nếu mặt đất được che phủ. Đó là lý do cà phê, hồ tiêu và cây ăn trái lâu năm là những cây chính trên đất đỏ Tây Nguyên, và cũng là cây chính của nhiều vườn quanh hồ.
Nhược điểm cũng có thật. Đất đỏ bazan thường chua, nhất là sau nhiều năm bón phân hoá học liên tục. Lân trong đất dễ bị sắt và nhôm giữ chặt nên cây khó lấy. Lớp đất mặt giàu mùn rất mỏng so với cả tầng đất, mất lớp này qua xói mòn là mất phần màu mỡ nhất. Người làm nông ở Tà Đùng giữ đất được bao nhiêu thì vườn bền bấy nhiêu.
Những loại đất hay gặp trên một lô vườn ven hồ
Đất đỏ bazan tầng dày. Màu đỏ thẫm hoặc nâu đỏ, bóp trong tay thấy mịn mà tơi, đào sâu vẫn đồng màu, ít đá. Thường ở lưng đồi thoải và đỉnh đồi bằng. Đây là vạt quý nhất cho cây lâu năm rễ sâu như sầu riêng, bơ, mắc ca.
Đất đỏ lẫn đá, tầng mỏng. Màu vẫn đỏ nhưng đào vài tấc đã gặp đá tảng, đá cuội hoặc lớp kết vón cứng. Hay gặp ở sườn dốc gắt, gần đỉnh nhọn và chỗ đất đã bị xói lâu năm. Cây rễ sâu trồng ở đây dễ đổ ngã, thiếu nước mùa khô.
Đất nhạt màu, nhiều sỏi sạn. Màu vàng nhạt hoặc xám, nhiều hạt sỏi tròn nhỏ như hạt đậu, khi khô cứng lại, khi ướt dễ trôi. Một phần là lớp kết vón sắt lộ ra sau khi đất mặt bị cuốn đi. Đất nghèo, giữ nước kém, cần nhiều hữu cơ mới trồng được.
Đất trũng chân đồi, ven suối. Màu sẫm, ẩm lâu, có khi loang lổ vàng xám vì đọng nước. Đất có thể màu mỡ nhưng mùa mưa dễ úng. Cây sợ úng như sầu riêng, bơ, hồ tiêu không hợp, chỗ này để rau màu mùa khô, chuối, cỏ cho bò hoặc đào ao.
Đất ven mép hồ. Dải đất lúc ngập lúc khô theo mực nước hồ thủy điện. Dải này thường nằm trong phạm vi quản lý, bảo vệ của hồ chứa, không phải đất để lập vườn lâu năm; muốn dùng phải hỏi chính quyền xã và đơn vị quản lý hồ về quy định hiện hành.
Tự đào hố xem đất trong một buổi sáng
Một cái hố sâu khoảng một mét nói nhiều hơn mọi lời giới thiệu về lô đất. Nên đào vào cuối mùa mưa hoặc đầu mùa khô, khi đất còn ẩm nhưng không nhão:
- Chọn ba tới năm điểm đại diện: đỉnh đồi, lưng đồi, chân đồi và những vạt trông khác màu hoặc cây mọc khác hẳn.
- Đào hố vuông khoảng 60–80 cm mỗi cạnh, sâu tới khi gặp đá hoặc tới khoảng một mét. Để một vách hố thẳng đứng, đón ánh sáng để nhìn.
- Nhìn từ trên xuống: lớp đất mặt sẫm màu dày bao nhiêu, từ đâu đất đổi màu, có lớp sỏi sạn hay đá chặn ngang không.
- Bóp một nắm đất ở mỗi lớp: tơi hay dẻo, có dính tay thành dây không, có mùi hôi chua của đất đọng nước không.
- Tìm rễ: rễ cây cũ đi sâu tới đâu, có rễ thối đen hay không. Rễ dừng ngang ở một lớp thường là dấu hiệu lớp đất cứng hoặc đọng nước.
- Đổ một xô nước vào đáy hố và để ý thời gian nước rút. Rút hết sau vài chục phút là thoát nước tốt; còn đọng tới chiều là đất có vấn đề.
- Chụp ảnh vách hố có thước đặt bên cạnh, ghi lại vị trí. Sau này bón phân, chọn cây hay so với kết quả phân tích đất đều dùng lại được.
Đào hố xong nhớ lấp lại theo đúng thứ tự lớp, đất mặt để trên cùng. Trên đất dốc, hố bỏ ngỏ qua mùa mưa sẽ thành chỗ nước xoáy và đất sụt.
Ghép cây theo từng vạt đất
Bảng dưới là cách ghép mang tính nguyên tắc, rút từ đặc điểm của cây và của đất. Mỗi vườn còn phải xét thêm hướng gió, nguồn nước tưới và sức đầu tư.
| Vạt đất | Cây hợp | Cây nên tránh | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Đỏ bazan tầng dày, thoát nước tốt | Sầu riêng, bơ, mắc ca, hồ tiêu, cà phê vối | Ít hạn chế | Vạt quý, nên dành cho cây lâu năm giá trị cao |
| Đỏ lẫn đá, tầng mỏng | Chanh dây, cây phân xanh, cỏ, cây che bóng chịu khó | Sầu riêng, mắc ca cần tầng sâu | Có thể đào hố rộng, bồi đất mặt từng gốc |
| Nhạt màu, sỏi sạn | Cây phân xanh, cỏ chăn nuôi, điều, cây rừng giữ đất | Cây ăn trái đòi đất màu | Cải tạo vài năm bằng hữu cơ trước khi trồng cây chính |
| Trũng ẩm chân đồi | Chuối, rau màu mùa khô, cỏ voi, ao trữ nước | Sầu riêng, bơ, hồ tiêu | Làm mương thoát nếu muốn trồng cây lâu năm |
| Sườn dốc gắt | Cây rừng, cây gỗ, băng cỏ, cây che bóng | Vườn thâm canh sạch cỏ | Ưu tiên giữ đất hơn là khai thác |
Điểm chung: cây lâu năm rễ sâu nên chiếm vạt đất tốt nhất, còn vạt xấu nên dùng để giữ đất, nuôi cỏ hoặc cải tạo dần. Nhiều vườn hỏng vì làm ngược lại, trồng cây đắt tiền khắp lô kể cả chỗ đá, chỗ úng, rồi mất công chăm cây còi suốt nhiều năm.
Đọc đất bằng cây và cỏ đang mọc
Trước khi đào, bà con có thể đọc đất qua thảm cây tự nhiên. Chỗ cỏ tranh mọc dày, lá vàng úa, thường là đất đã bạc màu và chua. Chỗ cỏ lá rộng xanh mướt, cây bụi mọc nhanh, thường là đất còn màu. Rêu xanh và cỏ lác mọc trên mặt đất là dấu hiệu đọng ẩm. Cây cà phê cũ còi cọc ở một vạt trong khi vạt bên cạnh xanh tốt cũng là thông tin đáng giá: hỏi người làm vườn trước đó vì sao vạt ấy kém thường biết thêm về đá ngầm, nước đọng hay bệnh trong đất.
Những vạt đất đã bị đào xới làm đường, san nền nhà, lấy đất đắp thường mất hẳn lớp đất mặt, trồng gì cũng chậm. Đánh dấu chúng ngay từ đầu để tính chuyện cải tạo riêng. Ở vùng hồ, những vạt từng bị lửa rẫy đốt nhiều lần cũng thường nghèo mùn hơn hẳn.
Cách đọc bằng mắt chỉ để khoanh vùng. Muốn biết độ chua, hàm lượng lân, kali hay chất hữu cơ, phải lấy mẫu gửi phòng phân tích. Kết quả phân tích cùng với hố đất là hai nền móng để quyết định bón gì, bón bao nhiêu, và có nên trồng loại cây đó hay không.
Độ dốc và hướng sườn cũng là một phần của đất
Ở Tà Đùng, đất tốt mà dốc quá thì giữ không nổi. Mưa đầu mùa trên sườn dốc trống có thể cuốn đi lớp đất mặt tích lũy nhiều năm chỉ trong vài trận. Vì vậy khi chọn cây, phải chọn luôn cách canh tác: sườn thoải có thể trồng hàng theo đường đồng mức, sườn dốc hơn cần bậc thang hoặc bồn gốc, sườn quá dốc nên để cây rừng, cây gỗ giữ đất. Không có con số độ dốc chung cho mọi cây; bà con nên hỏi cán bộ khuyến nông khuyến cáo cho từng loại cây và từng vạt.
Hướng sườn ảnh hưởng tới nắng và gió. Sườn hứng gió mạnh từ mặt hồ trong mùa mưa dễ làm gãy cành, rụng trái; ở đó nên có hàng cây chắn gió trước khi trồng cây ăn trái. Sườn khuất nắng chiều giữ ẩm tốt hơn trong mùa khô. Những thông tin này không ghi trên sổ đất, chỉ có được khi đi bộ khắp lô vào nhiều thời điểm trong ngày và trong năm.
Người mới lên Tà Đùng lập vườn nên ở lại xem đất qua ít nhất một mùa mưa trước khi trồng cây lâu năm trên diện rộng. Một mùa mưa sẽ chỉ ra rõ chỗ nào nước xẻ rãnh, chỗ nào đọng, chỗ nào gió quật — những thứ mà ngày nắng đẹp không nhìn thấy.
Trồng ngay hay cải tạo đất trước
Câu hỏi này đến với hầu hết người mới nhận một lô đất ở Tà Đùng. Nếu hố đất cho thấy tầng dày, thoát nước tốt, rễ cây cũ khoẻ, và phân tích không báo đất quá chua, có thể trồng ngay vào đầu mùa mưa, cải tạo dần trong hố trồng và quanh gốc. Ngược lại, nếu đất mặt đã mất, nhiều sỏi sạn, chua nặng hay lô vừa nhổ một vườn bệnh, thì một hai năm cải tạo trước khi trồng cây chính thường đỡ tốn hơn so với trồng xuống rồi chạy chữa cây còi.
Cải tạo trước không có nghĩa là để đất trống. Thời gian đó nên phủ đất bằng cây phân xanh, cây họ đậu, cỏ, hoặc trồng rau màu ngắn ngày để có thu nhập, đồng thời bón vôi theo khuyến cáo, trả lại hữu cơ, làm bậc thang và mương thoát nước. Khi cây chính xuống đất, nền đã sẵn.
Một cách làm dung hoà hay gặp ở vườn đồi: trồng cây chính trên những vạt tốt nhất ngay mùa mưa đầu, còn vạt xấu thì cải tạo song song và trồng sau một hai năm. Vừa không bỏ phí thời gian, vừa không ép cây giá trị cao vào chỗ đất chưa sẵn sàng.
Câu hỏi thường gặp
Đất đỏ bazan ở Tà Đùng có phải đất tốt nhất để trồng mọi cây không?
Đất đỏ bazan có cấu trúc tơi, thoát nước tốt và tầng dày nên hợp nhiều cây lâu năm, nhưng thường chua và nghèo lân dễ tiêu. Cây đòi đất ẩm thường xuyên hoặc đất trung tính sẽ cần cải tạo. Tốt hay không còn tuỳ độ sâu tầng đất và độ dốc của từng vạt.
Đất có màu vàng nhạt, nhiều sỏi tròn nhỏ là đất gì?
Thường là đất đã bị xói mất lớp mặt, để lộ lớp kết vón sắt hoặc đất phát triển trên nền đá khác. Đất này nghèo dinh dưỡng, giữ nước kém. Nên phân tích mẫu và cải tạo bằng hữu cơ, cây phân xanh trước khi trồng cây ăn trái.
Đào hố xem đất sâu bao nhiêu là đủ?
Với cây lâu năm, nên đào khoảng một mét hoặc tới khi gặp đá. Độ sâu đó cho thấy rễ cây đi được tới đâu và có lớp đất cứng, lớp đọng nước nào chặn giữa chừng không. Với rau màu, hố sâu vài tấc đã đủ.
Đất chân đồi ẩm quanh năm có trồng sầu riêng được không?
Sầu riêng rất sợ úng, rễ dễ bị nấm hại khi đất đọng nước. Chỗ trũng ẩm chỉ nên trồng khi đã làm mương thoát nước tốt và lên mô cao. Nhiều vườn chọn để chỗ trũng cho chuối, rau mùa khô hoặc ao trữ nước.
Có cần phân tích đất khi đã thấy vườn cũ trồng cà phê tốt không?
Vẫn nên phân tích. Cây cà phê tốt không cho biết đất đã chua tới mức nào sau nhiều năm bón phân, hay lân, kali còn bao nhiêu. Kết quả phân tích giúp bón đúng và tránh bón thừa, nhất là khi chuyển sang cây ăn trái.
Đất sát mép hồ thủy điện có được lập vườn không?
Dải đất lúc ngập lúc khô quanh hồ thuộc vùng quản lý của hồ chứa và có quy định riêng về bảo vệ. Không nên tự ý lập vườn lâu năm ở đây; muốn sử dụng phải hỏi chính quyền xã Tà Đùng và đơn vị quản lý hồ về quy định hiện hành.